ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN – GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CỦA HỌC VIÊN TRONG HOẠT ĐỘNG THỰC TẾ TẠI ĐỊA BÀN CƠ SỞ
1. Đặt vấn đề
Hoạt động thực tế tại địa bàn cơ sở là một nội dung quan trọng, không thể thiếu trong chương trình đào tạo của Nhà trường. Theo quy định tại Điều 5, Thông tư 97/2024/TT-BCA, một trong những nội dung cốt lõi của hoạt động này là: “Trực tiếp thực hiện công tác dân vận, vận động nhân dân tham gia các phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc… tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về an ninh, trật tự”. Như vậy, hoạt động thực tế không chỉ là dịp để học viên rèn luyện kỹ năng nghiệp vụ, thực hiện “Ba cùng” với nhân dân, mà còn là một kênh phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) trực tiếp, hiệu quả và mang tính lan tỏa cao tại địa bàn cơ sở.
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) vào hoạt động thực tế là xu thế tất yếu, giúp học viên tiếp cận người dân một cách nhanh chóng, sinh động và hiệu quả hơn. Thực tiễn các đợt hoạt động thực tế vừa qua cho thấy, học viên Nhà trường đã bước đầu ứng dụng CNTT vào một số nhiệm vụ, song vẫn còn nhiều dư địa để phát triển, đặc biệt là trong công tác PBGDPL. Việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT trong hoạt động thực tế tại cơ sở là vấn đề cấp thiết, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trong Công an nhân dân.
Bài viết sử dụng phương pháp tổng kết thực tiễn, phân tích và tổng hợp từ các đợt hoạt động thực tế của học viên các khóa K30S, K31S để làm rõ thực trạng và đề xuất giải pháp phù hợp với điều kiện của Nhà trường.
2. Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thực tế tại địa bàn cơ sở của học viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II
2.1. Kết quả đạt được
Một là, học viên đã tích cực tham gia hỗ trợ chính quyền và Công an địa phương triển khai các nhiệm vụ liên quan đến chuyển đổi số. Cụ thể, trong đợt hoạt động thực tế của học viên K30S tại Thủ Đức, học viên đã hỗ trợ Công an địa phương làm sạch dữ liệu dân cư, rà soát nhân hộ khẩu, đẩy mạnh triển khai xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (Đề án 06). Trong đợt hoạt động thực tế của học viên K31S tại xã Nhơn Hòa Lập, tỉnh Tây Ninh, học viên đã hỗ trợ Công an xã số hóa hơn 9.000 hồ sơ đăng ký xe gắn máy, sắp xếp và phân loại hơn 4.100 hồ sơ cư trú… Đây là những hoạt động thiết thực, góp phần quan trọng vào công cuộc chuyển đổi số quốc gia, đồng thời giúp học viên làm quen với môi trường làm việc số trong thực tiễn công tác Công an.

Học viên khoá K31S tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật trong đợt hoạt động thực tế
Hai là, học viên đã bước đầu ứng dụng CNTT vào công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật. Nhiều nhóm học viên đã sử dụng mạng xã hội (Zalo, Facebook) để kết nối, chia sẻ thông tin và tổ chức các buổi tuyên truyền pháp luật. Đặc biệt, trong đợt hoạt động thực tế của học viên K31S, tại xã Nhơn Hoà Lập, tỉnh Tây Ninh, học viên đã phối hợp tổ chức tập huấn công nghệ số AI cho cán bộ, công chức, nhân viên thuộc Đảng ủy, UBND, các tổ chức chính trị xã hội xã Nhơn Hòa Lập theo Giấy mời của UBND xã. Đây là một điểm sáng, thể hiện sự chủ động, sáng tạo của học viên trong việc ứng dụng CNTT để nâng cao năng lực số cho cán bộ cơ sở, từ đó gián tiếp nâng cao hiệu quả công tác PBGDPL.
Ba là, các hoạt động tuyên truyền pháp luật đã được triển khai với nhiều chủ đề phong phú, thiết thực, hướng đến nhiều đối tượng khác nhau. Trong đợt hoạt động thực tế của học viên K30S tại tỉnh Tây Ninh, học viên đã phối hợp tổ chức hơn 20 buổi tuyên truyền về các chủ đề như: “Ma túy học đường – tác hại và cách phòng tránh”, “Kỹ năng phòng, chống xâm hại trẻ em”, “Luật trẻ em và giáo dục kỹ năng sống”, tuyên truyền về Đề án 06 và hỗ trợ người dân cài đặt định danh điện tử, sử dụng dịch vụ công trực tuyến. Các buổi tuyên truyền này đã góp phần nâng cao nhận thức pháp luật cho học sinh, sinh viên và nhân dân trên địa bàn.
2.2. Hạn chế, khó khăn
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc ứng dụng CNTT trong hoạt động thực tế tại cơ sở của học viên vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập:
Một là, việc ứng dụng CNTT trong hoạt động PBGDPL tại cơ sở chưa được triển khai một cách hệ thống và có kế hoạch cụ thể. Các báo cáo tổng kết chủ yếu tập trung vào các hoạt động lao động, sản xuất, “Ba cùng” với nhân dân, giao lưu văn hóa, thể thao, mà chưa có sự đánh giá, tổng kết riêng về hiệu quả ứng dụng CNTT trong tuyên truyền pháp luật. Điều này cho thấy, đây vẫn là một nội dung mới mẻ, chưa được quan tâm đúng mức trong quá trình chuẩn bị và tổ chức hoạt động thực tế.
Hai là, kỹ năng số của học viên còn hạn chế. Mặc dù học viên được đào tạo về tin học cơ bản, nhưng kỹ năng thiết kế các sản phẩm truyền thông số (video, infographic, poster điện tử), kỹ năng tổ chức các buổi tuyên truyền trực tuyến, kỹ năng khai thác dữ liệu pháp luật trên môi trường số vẫn còn nhiều bất cập. Nhiều học viên chưa biết cách sử dụng hiệu quả các nền tảng như Canva, CapCut, AI, các công cụ tương tác trực tuyến (Kahoot, Quizizz) để tạo ra các sản phẩm tuyên truyền hấp dẫn, thu hút người dân.
Ba là, hạ tầng công nghệ tại địa bàn thực tế chưa đồng bộ. Tại nhiều địa bàn cơ sở, đặc biệt là vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, hạ tầng mạng internet còn yếu, trang thiết bị CNTT còn thiếu thốn. Điều này gây khó khăn cho việc tổ chức các hoạt động tuyên truyền pháp luật có ứng dụng CNTT, như tổ chức hội nghị trực tuyến, livestream tuyên truyền, hoặc sử dụng các ứng dụng tương tác trực tuyến.
Bốn là, nội dung số phục vụ PBGDPL chưa phong phú, hấp dẫn. Các tài liệu tuyên truyền pháp luật số chủ yếu là văn bản PDF, thiếu các sản phẩm đa phương tiện sinh động. Việc xây dựng kho tài liệu pháp luật số dùng chung, ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm pháp luật trực tuyến chưa được triển khai một cách bài bản, khoa học.
Năm là, chưa có cơ chế, chính sách khuyến khích ứng dụng CNTT trong hoạt động thực tế. Nhà trường chưa có quy định cụ thể, chưa có tiêu chí đánh giá, chưa có chế độ khen thưởng đối với học viên tích cực ứng dụng CNTT trong hoạt động thực tế tại cơ sở. Điều này chưa tạo được động lực để học viên chủ động, sáng tạo trong việc ứng dụng công nghệ vào công tác PBGDPL.
3. Giải pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thực tế tại địa bàn cơ sở của học viên nhằm nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật
Để khắc phục những hạn chế, bất cập nêu trên, phát huy tối đa tiềm năng của CNTT trong hoạt động thực tế tại cơ sở, góp phần nâng cao hiệu quả PBGDPL, tôi xin đề xuất một số giải pháp cụ thể như sau:
3.1. Nâng cao nhận thức và năng lực số cho học viên và giảng viên hướng dẫn
Thứ nhất, tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về vai trò của CNTT trong hoạt động thực tế. Nhà trường cần tổ chức các buổi sinh hoạt chính trị, tọa đàm, hội thảo để quán triệt chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và Bộ Công an về chuyển đổi số; phân tích rõ những lợi ích, hiệu quả của việc ứng dụng CNTT trong PBGDPL; khuyến khích học viên chủ động, sáng tạo trong việc ứng dụng công nghệ vào hoạt động thực tế.
Thứ hai, tổ chức đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số cho học viên. Trước khi học viên xuống địa bàn thực tế, Nhà trường cần tổ chức các lớp tập huấn về kỹ năng số, bao gồm: kỹ năng sử dụng các nền tảng trực tuyến, kỹ năng thiết kế nội dung số (Canva, CapCut, AI), kỹ năng khai thác dữ liệu pháp luật điện tử, kỹ năng sử dụng mạng xã hội để tuyên truyền pháp luật hiệu quả, kỹ năng đảm bảo an toàn thông tin trên môi trường số. Đặc biệt, cần chú trọng tập huấn về ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong hỗ trợ giải đáp pháp luật, thiết kế các sản phẩm truyền thông sáng tạo, phù hợp với xu thế chuyển đổi số hiện nay.
Thứ ba, bồi dưỡng năng lực số cho giảng viên hướng dẫn. Giảng viên hướng dẫn học viên thực tế cần được trang bị kiến thức, kỹ năng về CNTT, về các nền tảng số, về phương pháp tổ chức hoạt động tuyên truyền pháp luật có ứng dụng công nghệ. Đồng thời, giảng viên cần biết cách hướng dẫn, hỗ trợ học viên trong quá trình ứng dụng CNTT tại địa bàn cơ sở.
3.2. Đổi mới phương pháp tổ chức hoạt động thực tế tại cơ sở theo hướng ứng dụng CNTT
Thứ nhất, xây dựng kế hoạch hoạt động thực tế gắn với ứng dụng CNTT. Nhà trường cần xây dựng kế hoạch chi tiết cho từng đợt thực tế, trong đó xác định rõ các nội dung, hình thức ứng dụng CNTT trong tuyên truyền pháp luật; phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng nhóm học viên; xác định các chỉ tiêu, tiêu chí đánh giá kết quả ứng dụng CNTT.
Thứ hai, đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền pháp luật có ứng dụng CNTT. Cụ thể như:
Tổ chức tuyên truyền pháp luật qua mạng xã hội: Thành lập các trang, nhóm trên Facebook, Zalo để tuyên truyền pháp luật; tổ chức các buổi livestream, tọa đàm trực tuyến về các chủ đề pháp luật được người dân quan tâm.
Sản xuất các sản phẩm truyền thông số: Video ngắn, infographic, poster điện tử, podcast về các tình huống pháp luật, các quy định pháp luật mới; tổ chức các cuộc thi thiết kế sản phẩm truyền thông pháp luật.
Ứng dụng mã QR trong tuyên truyền pháp luật: Tạo mã QR dẫn đến các tài liệu pháp luật, video tuyên truyền, trang thông tin điện tử; dán mã QR tại các địa điểm công cộng, trụ sở Công an xã, trường học, khu dân cư.
Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu pháp luật trực tuyến: Sử dụng các nền tảng như Kahoot, Quizizz, Google Forms để tổ chức các cuộc thi trực tuyến, thu hút đông đảo người dân tham gia.
Ứng dụng AI trong hỗ trợ giải đáp pháp luật: Xây dựng chatbot AI để giải đáp các câu hỏi thường gặp về pháp luật; sử dụng AI để phân tích dữ liệu, dự báo các vấn đề pháp luật nổi cộm tại địa phương.
Thứ ba, tổ chức cho học viên thực hành ứng dụng CNTT trong các tình huống thực tế. Trong quá trình thực tế, giảng viên cần hướng dẫn học viên thực hành ứng dụng CNTT vào từng hoạt động cụ thể: từ việc tra cứu pháp luật, thiết kế tài liệu tuyên truyền, tổ chức tuyên truyền qua mạng xã hội, đến việc thu thập thông tin phản hồi từ người dân qua các kênh trực tuyến.
3.3. Xây dựng cơ sở dữ liệu số phục vụ hoạt động thực tế tại cơ sở
Thứ nhất, xây dựng kho tài liệu pháp luật số dùng chung. Nhà trường cần xây dựng kho tài liệu pháp luật số, bao gồm: các văn bản pháp luật, tình huống pháp luật, câu chuyện pháp luật, bài giảng điện tử, video tuyên truyền, infographic... Kho tài liệu này cần được tổ chức khoa học, dễ tra cứu, thường xuyên cập nhật và chia sẻ đến học viên trước khi xuống địa bàn thực tế.
Thứ hai, xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm pháp luật trực tuyến. Ngân hàng câu hỏi này sẽ được sử dụng để tổ chức các cuộc thi tìm hiểu pháp luật trực tuyến, đồng thời là công cụ để học viên tự kiểm tra, đánh giá kiến thức pháp luật của mình trước khi tuyên truyền cho người dân.
Thứ ba, xây dựng hệ thống thông tin về tình hình chấp hành pháp luật tại địa bàn cơ sở. Hệ thống này sẽ giúp học viên nắm bắt được tình hình chấp hành pháp luật, các vấn đề pháp luật nổi cộm tại địa phương, từ đó có kế hoạch tuyên truyền phù hợp, hiệu quả.
3.4. Tăng cường phối hợp giữa nhà trường và địa phương trong ứng dụng CNTT
Thứ nhất, thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường và Công an địa phương. Nhà trường cần chủ động phối hợp với Công an các xã, phường, thị trấn để xây dựng kế hoạch tuyên truyền pháp luật có ứng dụng CNTT; thống nhất các nội dung, hình thức, thời gian, địa điểm tổ chức; phân công trách nhiệm cụ thể cho từng bên.
Thứ hai, huy động sự tham gia của chính quyền địa phương và các tổ chức đoàn thể. Chính quyền địa phương và các tổ chức đoàn thể (Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân...) cần tham gia vào việc tổ chức các hoạt động tuyên truyền pháp luật có ứng dụng CNTT; tạo điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị, hạ tầng mạng để học viên triển khai các hoạt động.
Thứ ba, tận dụng tối đa các nền tảng số của địa phương. Nhiều địa phương đã có các nền tảng số như cổng thông tin điện tử, trang Facebook, Zalo của xã, phường... Nhà trường và học viên cần tận dụng tối đa các nền tảng này để tuyên truyền pháp luật đến người dân.
3.5. Đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá kết quả ứng dụng CNTT trong hoạt động thực tế
Thứ nhất, xây dựng bộ tiêu chí đánh giá kết quả ứng dụng CNTT. Bộ tiêu chí cần bao gồm các nội dung: mức độ ứng dụng CNTT trong các hoạt động tuyên truyền pháp luật; chất lượng các sản phẩm truyền thông số; mức độ tương tác, lan tỏa của các hoạt động tuyên truyền trên môi trường số; hiệu quả tác động đến nhận thức, hành vi chấp hành pháp luật của người dân. Đồng thời, cần cụ thể hóa các tiêu chí đánh giá theo Điều 10, Thông tư 97 về đánh giá kết quả hoạt động thực tế.
Thứ hai, tổ chức đánh giá thường xuyên, định kỳ. Nhà trường cần tổ chức đánh giá kết quả ứng dụng CNTT của học viên trong từng đợt thực tế; tổ chức tổng kết, rút kinh nghiệm; biểu dương, khen thưởng các cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc trong ứng dụng CNTT vào hoạt động thực tế.
Thứ ba, sử dụng kết quả đánh giá để điều chỉnh, cải tiến hoạt động. Kết quả đánh giá cần được sử dụng để điều chỉnh kế hoạch, nội dung, phương pháp tổ chức hoạt động thực tế; cải tiến công tác đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số cho học viên; hoàn thiện cơ sở dữ liệu số phục vụ hoạt động thực tế.
3.6. Đảm bảo an toàn, bảo mật thông tin trong quá trình ứng dụng CNTT
Thứ nhất, nâng cao nhận thức về an toàn, bảo mật thông tin. Học viên cần được đào tạo về các quy định của pháp luật và của ngành Công an về bảo vệ bí mật nhà nước, an toàn thông tin; về các nguy cơ mất an toàn thông tin trên môi trường số; về cách xử lý các tình huống mất an toàn thông tin.
Thứ hai, tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về bảo vệ bí mật nhà nước. Trong quá trình ứng dụng CNTT vào hoạt động thực tế, học viên cần tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về bảo vệ bí mật nhà nước; không đăng tải, chia sẻ các thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước lên môi trường mạng; sử dụng các kênh truyền thông an toàn, bảo mật.
Thứ ba, trang bị các công cụ, giải pháp bảo mật thông tin. Nhà trường cần trang bị cho học viên các công cụ, giải pháp bảo mật thông tin như: phần mềm diệt virus, công cụ mã hóa dữ liệu, hệ thống xác thực hai yếu tố...; hướng dẫn học viên sử dụng an toàn các nền tảng trực tuyến, mạng xã hội.
4. Kết luận và kiến nghị
4.1. Kết luận
Ứng dụng CNTT trong hoạt động thực tế tại cơ sở của học viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II là giải pháp quan trọng, cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả PBGDPL, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trong tình hình mới. Thực tiễn các đợt hoạt động thực tế vừa qua đã cho thấy những kết quả bước đầu đáng ghi nhận, song cũng bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập cần khắc phục. Để nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT trong hoạt động thực tế tại cơ sở, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp: nâng cao nhận thức và năng lực số cho học viên, giảng viên; đổi mới phương pháp tổ chức hoạt động thực tế; xây dựng cơ sở dữ liệu số; tăng cường phối hợp giữa nhà trường và địa phương; đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá; đảm bảo an toàn, bảo mật thông tin.
4.2. Kiến nghị
Đối với Ban Giám hiệu Nhà trường:
- Sớm ban hành quy định, hướng dẫn cụ thể về ứng dụng CNTT trong hoạt động thực tế tại cơ sở của học viên, gắn với các quy định của Thông tư 97/2024/TT-BCA.
- Đầu tư nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, trang thiết bị phục vụ hoạt động thực tế.
- Xây dựng kho tài liệu pháp luật số dùng chung, ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm pháp luật trực tuyến.
- Tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số cho học viên và giảng viên, đặc biệt là các kỹ năng ứng dụng AI, thiết kế sản phẩm truyền thông số.
- Có chế độ khen thưởng, động viên kịp thời đối với các cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc trong ứng dụng CNTT vào hoạt động thực tế.
Đối với Khoa Lý luận chính trị và Khoa học xã hội nhân văn:
- Chủ động xây dựng kế hoạch, nội dung ứng dụng CNTT trong hoạt động thực tế của học viên.
- Tổ chức tập huấn, hướng dẫn học viên về kỹ năng số, kỹ năng tuyên truyền pháp luật có ứng dụng CNTT.
- Phối hợp chặt chẽ với Công an địa phương trong tổ chức các hoạt động tuyên truyền pháp luật có ứng dụng CNTT.
- Tổ chức đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm sau mỗi đợt thực tế.
Đối với học viên:
- Chủ động, tích cực học tập, rèn luyện kỹ năng số; nâng cao nhận thức về vai trò của CNTT trong PBGDPL.
- Tích cực ứng dụng CNTT vào các hoạt động thực tế tại cơ sở; sáng tạo trong việc thiết kế các sản phẩm truyền thông pháp luật số.
- Tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về bảo vệ bí mật nhà nước, an toàn thông tin trong quá trình ứng dụng CNTT./.
Tuấn Anh - K.LLCT&KHXHNV