Thứ 4, 31/12/2025 16:48 (GMT+7)
Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ |

HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE NGƯỜI KHÁC TẠI CHƯƠNG XIV - BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015 (SỬA ĐỔI, BỔ SUNG NĂM 2017, NĂM 2025)

     Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định tại Chương XIV Bộ luật hình sự (BLHS), do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm danh dự con người. Những hành vi nguy hiểm cho xã hội này không chỉ xâm hại đến sự phát triển bình thường, lành mạnh của con người mà còn làm tổn thương tinh thần người bị hại cũng như gia đình của họ, gây ra những tác động xấu đến xã hội, nhiều vụ án gây phẫn nộ, gây bức xúc, nhức nhối trong dư luận. Trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam, quy định về các nhóm tội phạm nêu trên thường xuyên được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm qua từng thời kỳ.
 
    Có thể thấy tình hình các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người đang diễn biến ngày càng phức tạp. Đây là những hành vi không những gây thiệt hại cho nhân phẩm, danh dự của con người mà còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe của nạn nhân, làm băng hoại đạo đức, gây mất ổn định trật tự xã hội và đang là một trong những vấn đề được xã hội đặc biệt quan tâm.
     1. Quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự.
     Ngày 25/6/2025 Quốc hội đã ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025. Chương XIV BLHS “Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người” được quy định từ điều 123 đến điều 156, bao gồm các tội danh như giết người, cố ý gây thương tích, lây truyền HIV, hiếp dâm, làm nhục người khác, vu khống...Đây là chương quan trọng phản ánh giá trị tối cao của con người trong pháp luật hình sự, có những quy định chặt chẽ về độ tuổi, chủ thể, hình phạt tương ứng với mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi.
     Nội dung chính của chương XIV bao gồm: Nhóm tội xâm phạm tính mạng, nhóm tội xâm phạm sức khỏe, nhóm tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự, tội liên quan đến HIV. Hình phạt đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người.
     2. Nghiên cứu một loại tội phạm cụ thể.
    2.1 Các dấu hiệu định tội của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo quy định hiện hành
    * Khách thể của tội CYGTT hoặc GTHCSKCNK là quyền được tôn trọng và bảo vệ về sức khỏe, nhưng không phải là sức khỏe của người phạm tội. Nếu người phạm tội tự gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của chính mình, thì có thể cấu thành các tội phạm khác. Ví dụ: Tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự (Điều 332 BLHS 2015); tội trốn tránh nhiệm vụ (Điều 403 BLHS 2015). Đối tượng tác động của tội CYGTT hoặc GTHCSKCNK trong pháp luật hình sự Việt Nam là cơ thể của con người đang sống. Điều này có nghĩa là pháp luật chỉ xem xét và bảo vệ sự toàn vẹn của cơ thể sinh học tự nhiên, tức là những phần cơ thể mà con người được sinh ra và phát triển một cách tự nhiên.
     * Dấu hiệu hành vi khách quan BLHS 2015 không liệt kê một danh sách cụ thể các hành vi khách quan của tội CYGTT hoặc GTHCSKCNK mà thay vào đó, mô tả khái quát rằng đó là những hành vi có khả năng gây ra thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của người khác. Điều này tạo điều kiện cho sự linh hoạt trong việc áp dụng pháp luật, cho phép các cơ quan chức năng có thể xem xét và đánh giá các tình huống cụ thể. Hành vi CYGTT hoặc GTHCSKCNK có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, bao gồm việc sử dụng công cụ, phương tiện phạm tội hoặc không, cũng có thể được thực hiện thông qua các phương thức gián tiếp, chẳng hạn như việc lợi dụng súc vật để gây thương tích cho người khác. Đặc biệt, hành vi không hành động cũng có thể cấu thành tội phạm. Ví dụ trong trường hợp không cho ăn, không cho uống hoặc không cung cấp sự chăm sóc cần thiết cho những người phụ thuộc, như trẻ em, người già hoặc người khuyết tật, có thể dẫn đến tình trạng sức khỏe xấu đi, thậm chí là tử vong. Hành vi khách quan của tội CYGTT hoặc GTHCSKCNK với tội giết người giống nhau về hình thức, trong nhiều trường hợp giống nhau cả về mức độ dẫn đến thực tiễn xét xử gặp phải nhiều quan điểm khác nhau và khó khăn trong giải quyết.
     * Dấu hiệu hậu quả tội CYGTT hoặc GTHCSKCNK là tội phạm có cấu thành vật chất, điều này có nghĩa là để cấu thành tội phạm, hành vi của người phạm tội phải dẫn đến một hậu quả cụ thể, đó là thương tích hoặc tổn hại sức khỏe của nạn nhân. Theo quy định của pháp luật, nếu không có hậu quả xảy ra, tức là bị hại không có thương tích hoặc tổn hại sức 249 khỏe, thì hành vi của người phạm tội sẽ không đủ yếu tố để cấu thành tội phạm.
    * Dấu hiệu chủ thể Điều 134 BLHS 2015 không quy định chủ thể tội CYGTT hoặc GTHCSKCNK có dấu hiệu đặc biệt, do đó chủ thể của tội này là người có năng lực TNHS và đạt độ tuổi luật định. Chủ thể của tội CYGTT hoặc GTHCSKCNK trước hết phải là người có năng lực TNHS. Người có năng lực TNHS là người khi thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội có khả năng nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình và có khả năng điều khiển được hành vi ấy. Người có năng lực TNHS để có thể trở thành chủ thể của tội phạm nói chung và tội phạm được quy định ở Điều 134 BLHS 2015 nói riêng còn phải đạt đến một độ tuổi nhất định. Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 9 và Điều 12 BLHS năm 2015 thì chủ thể của tội phạm này phải thỏa mãn độ tuổi như sau: - Người từ 16 tuổi trở lên có thể là chủ thể của tội phạm được quy định ở Điều 134 BLHS 2015. - Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có thể trở thành chủ thể của tội phạm khi hành vi phạm tội thuộc khoản 3, khoản 4 hoặc khoản 5 Điều 134 BLHS 2015.
     * Dấu hiệu lỗi Lỗi của người phạm tội CYGTT hoặc GTHCSKCNK được quy định rõ trong điều luật là cố ý. Người phạm tội CYGTT hoặc GTHCSKCNK có thể ở trong các trường hợp: (1) Người phạm tội nhận thức được hành vi của mình có tính chất nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó sẽ gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, mong muốn hậu quả đó xảy ra. Trường hợp này hậu quả thương tích hay gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là mục đích của người phạm tội. (2) Người phạm tội nhận thức rõ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà mình gây ra, thấy trước hậu quả của hành vi đó, tuy không mong muốn, nhưng có ý thức bỏ mặc cho hậu quả xảy ra. Trong trường hợp này, hậu quả của tội phạm không phải là mục đích của người phạm tội, nhưng hậu quả này đáp ứng được mục đích của họ.
     2.2. Hình phạt của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.
     Điều 134 BLHS 2015 quy định 05 khung hình phạt khác nhau và khoản 6 quy định khung hình phạt cho hành vi chuẩn bị phạm tội, có hai loại hình phạt đối với tội CYGTT hoặc GTHCSKCNK là hình phạt cải tạo không giam giữ và hình phạt tù. Những trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, người phạm tội có thể bị áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm, đây là biện pháp hình sự thể hiện sự nhân đạo, khoan hồng của pháp luật, khuyến khích họ sửa chữa sai lầm và tái hoà nhập với cộng đồng. Mức hình phạt cao nhất mà người phạm tội CYGTT hoặc GTHCSKCNK có thể phải chịu là tù chung thân, được quy định ở khoản 5 Điều 134 BLHS 2015 đối với các trường hợp là làm chết 02 người trở lên, gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của 02 người trở lên là tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 134. Mặc dù lỗi của người phạm tội đối với hậu quả chết 02 người là lỗi vô ý nhưng vì mức độ nguy hiểm của hậu quả xảy ra đối với xã hội được xem là rất lớn nên mức hình phạt tối đa đối với những trường hợp này vẫn được quy định cao. Các tình tiết tăng nặng quy định từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 134 BLHS 2015 đóng vai trò quan trọng trong việc xác định khung hình phạt cho tội CYGTT hoặc GTHCSKCNK. Đây là các tình tiết làm tăng tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi, được sử dụng để định khung tại các khung hình phạt khác nhau gồm: điểm a đến điểm k khoản 1; điểm đ khoản 2; điểm d khoản 3; điểm d, đ khoản 4 và điểm b khoản 5 Điều 252 134 BLHS 2015. Thể hiện sự khác biệt về kỹ thuật lập pháp trong cấu thành tội phạm tội CYGTT hoặc GTHCSKCNK so với các tội phạm khác, góp phần phân hoá tội phạm, nâng cao hiệu quả trong công tác phòng ngừa và xử lý tội phạm. Khoản 6 quy định trường hợp chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm. Mức hình phạt này thấp hơn mức hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 134 BLHS 2015 và cũng thấp hơn mức hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 305 BLHS 2015 đối với hành vi chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ (bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm). Có thể suy ra mục đích nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác ở khoản 6 Điều 134 BLHS 2015 đã trở thành tình tiết giảm nhẹ đối với những hành vi tương tự được quy định tại khoản 1 Điều 305 BLHS 2015.
      2.3. Một số bất cập, hạn chế của Bộ luật Hình sự 2015 quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.
     Về tên gọi: Việc đặt tên gọi cho điều luật này là tội CYGTT hoặc GTHCSKCNK dẫn đến quan điểm cho rằng đây là tội phạm ghép gồm hành vi CYGTT phạm tội và hành vi cố ý GTHCSKCNK phạm tội9. Tuy nhiên, trong thực tế chỉ có một nhóm hành vi gây thiệt hại cho sức khỏe và thiệt hại đó có thể được mô tả qua các khái niệm như: thương tích, thương tật, tổn hại, tổn thương. Trong khi đó xác định tổn thương cơ thể làm cơ sở để xác định tội phạm phải cộng tổng tất cả thiệt hại lại. Việc xác định đâu là thương tích, đâu là tổn hại cho sức khỏe cũng thuộc vấn đề chuyên môn y khoa mà các cơ quan tiến hành tố tụng không thể tự xác định được và việc phân định thiệt hại cho sức khỏe thuộc loại nào cũng không mang nhiều ý nghĩa do hành vi phạm tội chỉ có một. Hơn nữa trong thực tiễn các khái niệm thương tích, tổn hại, tổn thương cũng được dùng thay thế nhau trong nhiều trường hợp. Do đó, việc một khái niệm tội chỉ một nhóm hành vi gây thiệt hại cho sức khỏe con người nhưng lại có từ “hoặc” ở giữa là không hợp lý, bất cập cho việc định tội danh và gây ra hạn chế trong giải quyết các vụ án.
      Về các tình tiết định lượng được quy định tại các điểm a, đ khoản 2; a, c khoản 3; b, d khoản 4 và “làm chết người” tại điểm a khoản 4 không quy định rõ là gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người hay làm chết 01 người dễ gây ra sự hiểu lầm về số người bị CYGTT hoặc bị gây tổn hại cho sức khỏe, số người chết.
      Về tình tiết tăng nặng TNHS “gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác” chỉ được quy định tại điểm b khoản 4 Điều 134 BLHS 2015 mà không được quy định tại khoản 5 dẫn đến bỏ sót trường hợp gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của 02 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người là 61%11. Nếu xét về tính chất nguy hiểm của hành vi và mức độ nghiêm trọng của hậu quả thì rõ ràng trường hợp ở trên có tính nguy hiểm tương đương với trường hợp quy định tại điểm b khoản 5.
     Về tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” và “tái phạm nguy hiểm” chỉ được quy định tại khoản 2 Điều 134 BLHS 2015 mà không được quy định tại khoản 3, khoản 4, khoản 5. Như vậy, trường hợp CYGTT hoặc GTHCSKCNK với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% mà thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên hoặc tái phạm nguy hiểm thì không bị xét xử theo khoản 3 mà chỉ bị xét xử theo khoản 2 Điều 134. Trong khi đó, nếu cũng gây ra tỷ lệ tương tự nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định từ điểm a đến điểm k khoản 1 thì sẽ bị xét xử theo khoản 3. Như vậy, các trường hợp có tính nguy hiểm cho xã hội tương đương lại bị truy cứu TNHS khác nhau.
     2.4. Kiến nghị hoàn thiện quy định Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác đáp ứng định hướng phát triển pháp luật trong kỷ nguyên mới.
     Xem xét giảm hình phạt, gia tăng các biện pháp chuyển hướng: nhằm phục hồi các quan hệ xã hội bị xâm phạm, giúp bị hại được bồi thường, cộng đồng có biện pháp phòng ngừa tội phạm và người phạm tội có nhiều cơ hội tái hoà nhập cộng đồng hơn. Trong thực tiễn xét xử, phần lớn các vụ việc phạm tội CYGTT hoặc GTHCSKCNK xuất phát từ mâu thuẫn xã hội có thể hòa giải, nhưng vẫn bị xử lý hình sự theo tư duy trừng phạt truyền thống. Cách tiếp cận này đã bộc lộ một số hạn chế và đặt ra nhu cầu sửa đổi. Trong nhiều trường hợp, hành vi phạm tội xảy ra do bộc phát cảm xúc, mâu thuẫn dân sự, hoặc trong bối cảnh người phạm tội không có nhân thân xấu, có thiện chí bồi thường và bị hại cũng có mong muốn hòa giải. Việc áp dụng hình phạt tù trong những trường hợp này vừa không cần thiết, vừa gây tốn kém về mặt xã hội.
     Ở Việt Nam, trong các vụ việc CYGTT hoặc GTHCSKCNK, nhiều bị hại không yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự nếu được bồi thường hợp lý, điều này mở ra cơ hội cho việc chính thức hóa cơ chế chuyển hướng sang mô hình hòa giải. Tội CYGTT hoặc GTHCSKCNK thường gắn với môi trường có mâu thuẫn, thiếu kết nối cộng đồng hoặc rào cản văn hóa ứng xử. Vì vậy, biện pháp đấu tranh và phòng ngừa không nên chỉ là răn đe hình sự, mà cần xem xét đến một số giải pháp như: Xây dựng chương trình hòa giải; Áp dụng các khóa can thiệp hành vi, kiểm soát cảm xúc với người phạm tội thay cho phạt tù ngắn hạn;
      Hỗ trợ tái hòa nhập sau thi hành án, đặc biệt với người trẻ tuổi hoặc lần đầu phạm tội.
Các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người là một trong những chế định thể hiện chính sách hình sự của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền con người cũng như các quyền cơ bản của công dân. Để đảm bảo áp dụng hiệu quả các quy định của pháp luật về nhóm tội này trong thực tiễn đòi hỏi cần có những sửa đổi các quy định của pháp luật hình sự cho phù hợp cũng như các giải pháp khác như ban hành các văn bản hướng dẫn để giải thích rõ hơn và thống nhất các quy định của pháp luật, tăng cường công tác tổng kết thực tiễn xét xử để đưa ra những kinh nghiệm trong thực tiễn xét xử cũng như thống nhất đường lối áp dụng một số trường hợp đặc biệt, chưa có sự thống nhất trong cách hiểu và áp dụng. Bên cạnh đó, cần nâng cao chất lượng của đội ngũ áp dụng pháp luật không chỉ về chuyên môn mà còn về đạo đức nghề nghiệp. Ngoài ra, công tác tuyên truyền giáo dục về pháp luật cho người dân cũng cần được đẩy mạnh để góp phần nâng cao ý thức pháp luật cho người dân. Qua đó góp phần hiệu quả vào công tác đấu tranh và phòng ngừa tội phạm./.
 
Thùy Hương - P.HCTH
 
Tài liệu tham khảo
1. Quốc hội (2025), Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025.2 Bộ Công an (2021), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam - Phần các tội phạm tập 2, Nxb. Lao động.
2. Bình luận Bộ luật hình sự năm 2015 - Chương XIV các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người...
3. Kỷ yếu hội thảo khoa học pháp luật hình sự và tố tụng hình sự Việt Nam 80 năm xây dựng, phát triển và định hướng hoàn thiện trong kỷ nguyên mới (Trường Đại học Luật Hà Nội).

  Liên kết Website

  Thống kê

Trực tuyến 286
Tất cả 9,199,615